BỆNH LÝ THƯỜNG GẶP

BỆNH LÝ THƯỜNG GẶP

Bệnh lý thường gặp mà hội châm cứu đã và đang điều trị gồm các bệnh như:

  • Đau lưng
  • Đau cổ vai gáy
  • Thoát vị đĩa đệm
  • Thần kinh tọa
  • Đau đầu mất ngủ
  • Viêm Xoang
  • Viêm mũi dị ứng
  • Viêm da
  • Sụp mí mắt
  • Tê tay chân
  • Rối loạn kinh nguyệt
  • Đau dạ dày
  • Giải độc gan thận
  • Tiểu đêm

  • Bệnh lý thường gặp

    BỆNH LÝ THƯỜNG GẶP LÀ RỐI LOẠN CẢM XÚC

    Châm cứu có thể giúp kiểm soát lo âu và trầm cảm. Những người cần được châm cứu thường là những người

    có mức độ lo âu và trầm cảm cao, nhưng lại mặc kệ không điều trị với hi vọng

    những triệu chứng này sẽ tự cải thiện. Với những người bị trầm cảm,

    châm cứu có thể khiến họ có một khoảng thời gian cảm thấy rằng,

    họ khỏe mạnh về mặt thể chất, từ đó, giúp họ có cái nhìn tích cực hơn

    về thế giới bên ngoài, và có thể tạo ra một bước đột phá lớn về nhận thức ở người bệnh trầm cảm.

    BỆNH LÝ THƯỜNG GẶP LÀ RỐI LOẠN GIẤC NGỦ

    Một số người có thói quen khó chìm vào giấc ngủ, thường xuyên thức dậy vào giữa đêm hoặc

    thức dậy vào buổi sáng quá sớm. Châm cứu có thể cải thiện được cả 3 thói quen trên.

    Lợi ích của thuật châm cứu bao gồm cả việc giúp thư giãn, do vậy,

    châm cứu có thể sẽ giúp ích trong việc điều trị các rối loạn về giấc ngủ.

    Một trong số những cách mà thuật châm cứu có ích đối với những người bị mất ngủ là do châm cứu

    có khả năng làm giảm lo âu.

BỆNH LÝ THƯỜNG GẶP

Châm cứu kết hợp đèn hồng ngoại trị liệu

Đèn hồng ngoại sử dụng liệu pháp bằng phương pháp nhiệt. Khi được chiếu vào vị trí mong muốn,

tia hồng ngoại sẽ xuyên qua da khoảng 3mm giúp làm nóng da tại chỗ, nhiệt độ da tăng lên,

mạch máu tại chỗ giãn ra.

Do hiện tượng tăng lượng máu cục bộ và tăng nhiệt độ tại chỗ dẫn đến phát tán nhiệt đi khắp cơ thể và

làm tăng nhiệt toàn thân. Sức nóng của đèn hồng ngoại có tác dụng giảm đau, chống co cứng cơ,

làm giãn mạch, tăng chuyển hóa và dinh dưỡng tại chỗ…

Phương pháp đốt ngải cứu có tác dụng như thế nào ?

Ngải cứu khi cháy hơ ấm lên cơ thể tạo cảm giác nóng dịu, đồng thời ngấm sâu vào trong da,

tác động đến huyệt tạo cảm giác thoải mái, hiệu quả trong điều trị tỏa ra mùi thơm đặc trưng.

Sử dụng sức nóng (nhiệt) để trị liệu ngày nay rất phổ biến với nhiều cách khác nhau

như bức xạ hồng ngoại (từ đèn hồng ngoại), chườm nóng bằng túi nước nóng,

ngâm parafin, đông y cũng có phương pháp chườm thảo dược.

Những điểm khác của phương pháp đốt ngải cứu

Nhưng điểm khác của phương pháp đốt ngải cứu với các phương pháp kể trên đó là hiệu quả

sức nóng sẽ gia tăng gấp bội nếu tác động làm nóng lên một điểm chính xác rất nhỏ

của cơ thể là huyệt đạo, có đặc tính trị bệnh, làm dịu đau đối với nhiều chứng bệnh

khác nhau đã được người ta biết đến hàng ngàn năm qua.

bệnh lý thường gặpTác dụng ở đây đến từ sự kết hợp của sức nóng và hiệu quả phản xạ trị liệu của châm cứu.

Như vậy, việc sử dụng sức nóng tại một điểm chính xác gọi là huyệt thay vì

sử dụng sức nóng trên một diện tích rộng như đèn hồng ngoại sẽ tăng cường tác dụng gấp nhiều lần.

Theo nguyên lý nào ?

Theo các nguyên lý của thần kinh, những kích thích bên ngoài khi tới da đều được những dây thần kinh ở nơi bị kích thích đưa về não.

Kích thích bởi nhiệt cũng vậy. Ngải cứu khi cháy đỏ tạo ra sức nóng từ 500 – 6000C, thuộc thành phần tia hồng ngoại trong dải quang phổ.

Khi được giữ ở khoảng cách phù hợp bên trên làn da thì mồi ngải không tạo ra bất cứ cảm giác khó chịu nào, không để lại dấu vết gì trên da.

Phương pháp châm và cứu các bệnh lý thường gặp

Y học cổ truyền coi hai phương pháp châm và cứu có tầm quan trọng ngang nhau.

Châm thường sử dụng trong điều trị bệnh thuộc thực (mới bị bệnh), bệnh thuộc nhiệt (nóng);

cứu thường sử dụng trong bệnh lý thuộc hư (bệnh đã lâu), bệnh thuộc hàn (lạnh).

Theo học thuyết âm dương, nếu gọi châm là dương thì cứu là âm, cho nên cứu chịu nửa phần trách nhiệm trong việc trị bệnh. Từ thời thượng cổ, việc đốt cứu đã phát triển mạnh tại Á châu: Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Hàn quốc.

Trong nhiều thời đại lịch sử Trung Quốc, việc trị bệnh bằng châm kim nhiều khi phải nhường bước cho việc trị bệnh bằng đốt cứu.

BỆNH LÝ THƯỜNG GẶP LÀ ĐAU THẦN KINH TỌA

Đau thần kinh tọa là tình trạng dây thần kinh tọa bị chèn ép hoặc tổn thương.tùy vào vị trí

tổn thương ở rễ thần kinh L5 hay S1

-Nếu rễ thần kinh L5 bị tổn thương thì người bệnh có hiện tượng đau dọc từ lưng lan ra mông

xuống mặt ngoài đùi- mặt ngoài cẳng chân đến tận ngón chân út.

– Nếu rễ thần kinh S1 bị tổn thương thì người bệnh đau phía sau mông, thẳng xuống sau đùi,

xuống phía sau bắp chân tới ngón cái. Nếu đau thần kinh tọa trên (thần kinh hông) thường đau tới phía trên đầu gối

Nguyên nhân chính là do tổn thương vùng cột sống thắt lưng mới gây ra những cơn đau

từ vùng thắt lưng lan xuống mông và đến chân khiến mọi hoạt động của người bệnh trở nên hết sức khó khăn.

Có một số người thường nghĩ nhầm bệnh đau thần kinh tọa là do chính từ đau chân mà ra.

nếu đau dây thần kinh tọa dưới thì đau tới mắt cá ngoài bàn chân.

BỆNH LÝ THƯỜNG GẶP GAI CỘT SỐNG

Thường là bệnh mạn tính do  thoái hóa cột sống lâu ngày không điều trị hoặc điều trị không đúng cách dẫn tới mọc chồi gai ở thân đốt sống

Thực thực tế gai cột sống chỉ là những mỏm xương tròn hoặc chỉ là một phần nhỏ vài milimet nhô lồi lên ở các khớp, xương, đĩa sụn khu vực đốt sống

Thường gai đốt sống mọc ở phía trước và mặt bên không ảnh hưởng đến dây thần kinh tọa,

bản thân những gai xương mọc ra ở vị trí này nó không gây đau,  nhưng cũng có khi gai mọc

ở phía sau gây hẹp lỗ liên hợp dẫn tới chèn ép dây thần kinh tọa

Vì vậy đa số cơ thể người lớn tuổi đều có gai cột sống nhưng chỉ những gai nào gây đau mới cần phải điều trị.

BỆNH LÝ THƯỜNG GẶP LÀ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG

Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ là sự thoát khỏi vị trí bình thường của nhân nhầy đĩa đệm cột sống cổ gây nên bệnh lý chèn ép các rễ thần kinh hoặc tủy sống cổ.

Biểu hiện lâm sàng thành từng đợt, tùy từng vị trí và giai đoạn của bệnh mà có các triệu chứng lâm sàng riêng lẻ hoặc phối hợp thành hội chứng khác nhau như:

Hội chứng cột sống cổ

Hội chứng rễ cổ

Hội chứng tủy cổ

Hội chứng rễ – tủy cổ

Hội chứng rối loạn thần kinh thực vật.

BỆNH LÝ THƯỜNG GẶP LÀ THOÁI HÓA CỘT SỐNG

Thông thường độ tuổi trung bình bị thoái hóa khớp cột sống thắt lưng là gần 50 tuổi trớ lên do quá trình tạo xương ít hơn quá trình hủy xương dẫn đến loãng xương.

Hoặc tế bào sụn ở vùng cột sống theo thời gian lâu ngày khả năng tái tạo và sinh sản các tế bào

của sụn này bị giảm dần cho đến khi hết hẳn, kèm theo đó là sụn kém chất lượng,

khả năng chịu lực và độ đàn hồi giảm dẫn tới quá trình thoái hóa của xương..

bệnh lý thường gặp
Thoát vị đĩa đệm

BỆNH LÝ THƯỜNG GẶP LÀ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM

Bình thường đĩa đệm nằm ở khe giữa 2 đốt sống có lớp bao xơ bao bọc nhân nhày ở trung tâm nhờ tính đàn hồi đĩa đệm làm nhiệm vụ như 1 bộ phận giảm sốc bảo vệ cột sống khỏi bị chấn thương.

Chính vì vậy những cử động cúi gập hoặc ưỡn lưng  quá mức ở 1 tư thế khá lâu và thường xuyên dễ làm cho đĩa đệm gánh chịu lực tác động lớn lâu dần

Nên đĩa đệm mau chóng thoái hóa,bao xơ bao bọc nhân nhầy trở nên khô,

cứng dễ giòn và nứt rách sau một vận động gắng sức sai tư thế tác động

vào cột sống  thắt lưng làm cho bao xơ vốn đã nứt và rách

Nguyên nhân

Sẽ mở đường cho nhân nhày phía trong theo đó thoát ra ngoài khỏi vị trí của nó được gọi là thoát vị đĩa đệm, hay nói cách khác nó là tình trạng đĩa đệm bị ép lồi ra khỏi vị trí vốn có, giữa các đốt sống.

Ở người trẻ đang độ tuổi lao động, thoát vị đĩa đệm thường gặp cấp tính sau các động tác gắng sức mạnh không đúng tư thế của cột sống (cúi xuống nâng vật nặng sai tư thế, cử động đột ngột của thân,sau đá banh,đánh tennis,tập tạ…) gây đau vùng thắt lưng cấp tính.

Ở người lớn tuổi, do quá trình  thoái hoá đốt sống, đĩa đệm, hệ thống dây chằng là nguyên nhân hay gặp gây đau thắt lưng lan ra mông xuống chân mạn tính và tái phát.

Ở người béo phì nguy cơ bị nhiều hơn do cột sống là trụ cột để nâng đỡ toàn bộ cơ thể mà người béo phì sức nặng đè ép lên toàn bộ cột sống gây nên tình trạng quá tải.

Có khi tổn thương đĩa đệm do vi chấn thương kéo dài trong cuộc sống hàng ngày như lái xe đường dài,

tư thế xấu (như lệch người sang một bên hay cúi ra trước) trong thời gian dài .

Châm cứu kết hợp ngải cứu